Thực trạng nhu cầu và tiếp cận dịch vụ bảo vệ, chăm sóc và giáo dục của trẻ em khuyết tật

Ngày 27/10/2025 Bộ trưởng Bộ Y tế có Quyết định số 3346/QĐ-BYT về xây dựng Đề án hỗ trợ trẻ em khuyết tật tiếp cận các dịch vụ bảo vệ, chăm sóc, giáo dục tại cộng đồng giai đoạn 2026-2030. Ngày 24/3/2026, Cục Bà mẹ và Trẻ em, Bộ Y tế phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức cuộc họp góp ý dự thảo Đề án hỗ trợ trẻ em khuyết tật tiếp cận các dịch vụ bảo vệ, chăm sóc, giáo dục tại cộng đồng giai đoạn 2026-2030, đại diện các cơ quan, tổ chức trong nước và quốc tế, các chuyên gia có liên quan trong lĩnh vực chăm sóc, hỗ trợ trẻ em khuyết tật đã có nhiều ý kiến góp ý. Qua tiếp cận Dự thảo Đề án, với góc nhìn công tác Cứu trợ trẻ em khuyết tật, xin nêu một số ý kiến: Thực trạng nhu cầu và tiếp cận dịch vụ bảo vệ, chăm sóc và giáo dục của trẻ em khuyết tật; Khuyến nghị hoàn thiện chính sách đối với trẻ em khuyết tật; Đề xuất giải pháp xây dựng mô hình hỗ trợ trẻ em khuyết tật tiếp cận dịch vụ toàn diện.

1.2
Chủ tịch Trung ương Hội Ngô Sách Thực, các Đại sứ Nhân ái, đại biểu và TEKT chụp ảnh lưu niệm tại Chương trình Chắp cánh ước mơ cho TEKT năm 2026

Những con số biết nói từ thực tiễn

Trẻ em khuyết tật là một trong những nhóm xã hội dễ bị tổn thương nhất, cần được ưu tiên đặc biệt trong hệ thống chính sách phát triển con người và bảo đảm an sinh xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn hiện nay cho thấy, khoảng cách giữa nhu cầu hỗ trợ và khả năng tiếp cận dịch vụ của nhóm đối tượng này vẫn còn rất lớn, đặt ra nhiều vấn đề cần được nhìn nhận một cách thẳng thắn, toàn diện.

Theo kết quả Điều tra quốc gia về người khuyết tật năm 2023, tỷ lệ người khuyết tật từ 2 tuổi trở lên chiếm 6,11% dân số. Đáng chú ý, khu vực nông thôn có tỷ lệ cao hơn đáng kể so với thành thị (6,89% so với 4,78%), phản ánh sự chênh lệch về điều kiện sống, chăm sóc sức khỏe và khả năng tiếp cận dịch vụ. Đặc biệt, nhóm trẻ nhỏ từ 2 đến 4 tuổi có tỷ lệ khuyết tật cao nhất, cho thấy nhu cầu cấp thiết của các dịch vụ phát hiện sớm và can thiệp sớm – yếu tố có ý nghĩa quyết định đến khả năng phục hồi và phát triển của trẻ trong suốt vòng đời.
Tuy nhiên, nghịch lý đang tồn tại là trong khi nhu cầu can thiệp sớm ngày càng gia tăng, thì hệ thống dịch vụ tương ứng lại chưa phát triển tương xứng. Ở nhiều địa phương, dịch vụ phát hiện sớm còn mang tính tự phát, thiếu chuyên môn sâu; can thiệp sớm chưa được chuẩn hóa; gia đình phải tự tìm kiếm và chi trả với chi phí cao. “Giai đoạn vàng” của trẻ vì thế có nguy cơ bị bỏ lỡ.

Khoảng cách giữa “tiếp cận trên giấy tờ” và “tiếp cận thực chất”

Một trong những điểm sáng trong chính sách đối với người khuyết tật là mức độ bao phủ về bảo trợ xã hội và bảo hiểm y tế đã được cải thiện đáng kể. Hiện nay, khoảng 43,4% người khuyết tật được hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng; gần 95,7% có thẻ bảo hiểm y tế. Đây là nền tảng quan trọng để bảo đảm quyền tiếp cận các dịch vụ cơ bản.

1.3

Các bác sỹ, y sĩ thực hiện phẫu thuật miễn phí cho TEKT tại Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Phú Thọ, do Trung tâm II và Sở Y tế Phú Thọ tổ chức năm 2025.

Tuy nhiên, khi đi sâu vào thực tế triển khai, có thể thấy một khoảng cách đáng kể giữa chính sách và khả năng tiếp cận thực chất. Chỉ 24,8% trạm y tế cấp xã có thiết kế thân thiện với người khuyết tật. Nhiều cơ sở y tế chưa có lối đi phù hợp, thiếu trang thiết bị hỗ trợ, thiếu nhân lực được đào tạo chuyên sâu về phục hồi chức năng và chăm sóc trẻ khuyết tật.

Điều đó đồng nghĩa với việc, dù có thẻ bảo hiểm y tế, nhiều trẻ em khuyết tật vẫn gặp khó khăn trong việc tiếp cận dịch vụ khám chữa bệnh một cách thuận lợi và hiệu quả. Không ít gia đình phải đưa con lên tuyến trên, phát sinh chi phí lớn, tạo thêm gánh nặng về kinh tế và tâm lý.

Thực trạng này cho thấy, vấn đề không chỉ nằm ở việc “có chính sách hay không”, mà quan trọng hơn là “chính sách có đi vào cuộc sống hay không”, “dịch vụ có thực sự tiếp cận được hay không”.

Giáo dục hòa nhập – khoảng trống lớn cần lấp đầy

Giáo dục là chìa khóa để trẻ em khuyết tật hòa nhập xã hội, song đây cũng là lĩnh vực bộc lộ nhiều hạn chế nhất hiện nay. Tỷ lệ đi học đúng độ tuổi của trẻ em khuyết tật đang có xu hướng giảm so với năm 2016: bậc tiểu học đạt 68,1%, trung học cơ sở 53% và trung học phổ thông chỉ còn 30,8%.

Khoảng cách về tỷ lệ biết chữ giữa người khuyết tật và không khuyết tật vẫn ở mức cao (79% so với 96,3%). Đây không chỉ là con số thống kê, mà là chỉ dấu rõ ràng về sự bất bình đẳng trong cơ hội tiếp cận giáo dục.

1.4

Một buổi học của TEKT Trung tâm Bảo Ngọc năm 2025

Nguyên nhân của tình trạng này là tổng hợp của nhiều yếu tố. Một mặt, cơ sở vật chất của nhiều trường học chưa đáp ứng yêu cầu tiếp cận; thiếu phòng học chức năng, thiết bị hỗ trợ. Mặt khác, đội ngũ giáo viên chưa được đào tạo đầy đủ về giáo dục đặc biệt; phương pháp giảng dạy chưa phù hợp với từng dạng tật.

Bên cạnh đó, giáo dục hòa nhập ở nhiều nơi vẫn mang tính hình thức. Trẻ em khuyết tật được tiếp nhận vào trường học, nhưng không được hỗ trợ đầy đủ để theo kịp chương trình; thiếu kế hoạch giáo dục cá nhân; thiếu sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và các dịch vụ hỗ trợ. Hệ quả là nhiều em bỏ học giữa chừng hoặc không thể tiếp tục học lên các bậc cao hơn.

Nguy cơ bị “bỏ lại phía sau” trong kỷ nguyên số

Trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ, khả năng tiếp cận công nghệ trở thành một yếu tố quan trọng quyết định cơ hội phát triển của mỗi cá nhân. Tuy nhiên, đối với người khuyết tật nói chung và trẻ em khuyết tật nói riêng, khoảng cách số đang ngày càng gia tăng.

Chỉ 33,6% người khuyết tật sử dụng Internet, trong khi tỷ lệ này ở nhóm không khuyết tật lên tới 83,7%. Sự chênh lệch này không chỉ phản ánh hạn chế về điều kiện kinh tế, mà còn cho thấy sự thiếu hụt các thiết bị hỗ trợ, phần mềm phù hợp và kỹ năng số.

1.5

TS. Ngô Sách Thực, Chủ tịch Trung ương Hội truyền đạt tại lớp tập huấn triển khai Nghị quyết 57- NQTW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia…

1.6

TS. Ngô Sách Thực, Chủ tịch Trung ương Hội trao 05 máy tính trị giá 50 triệu đồng cho 05 học sinh Trường Phổ thông dân tộc nội trú THCS Hiệp Đức (thành phố Đà Nẵng)

Trong lĩnh vực việc làm, chỉ 23,5% người khuyết tật trong độ tuổi lao động có việc làm. Điều này cho thấy một vòng luẩn quẩn: hạn chế tiếp cận giáo dục dẫn đến hạn chế về kỹ năng; hạn chế về kỹ năng dẫn đến khó khăn trong việc làm; từ đó tiếp tục làm gia tăng bất bình đẳng và nghèo đói.

Nếu không có những chính sách kịp thời và hiệu quả, nguy cơ “bị bỏ lại phía sau” của trẻ em khuyết tật trong tiến trình chuyển đổi số sẽ ngày càng rõ nét, kéo theo những hệ lụy lâu dài đối với sự phát triển của xã hội.

Định kiến và nhận thức xã hội

Bên cạnh những rào cản về vật chất và thể chế, một trong những yếu tố cản trở sâu sắc nhất đối với việc tiếp cận dịch vụ của trẻ em khuyết tật chính là định kiến xã hội.

Kết quả khảo sát cho thấy, chỉ 42,7% người được hỏi đồng ý rằng trẻ em khuyết tật nên học cùng với trẻ em không khuyết tật. Khoảng 55% cho rằng doanh nghiệp chưa sẵn sàng tuyển dụng người khuyết tật. Những con số này phản ánh một thực tế rằng, sự kỳ thị và thiếu hiểu biết vẫn còn tồn tại ở mức đáng kể.

Định kiến không chỉ làm giảm cơ hội tiếp cận dịch vụ, mà còn tác động tiêu cực đến tâm lý của trẻ và gia đình, làm suy giảm động lực vươn lên, hạn chế sự tham gia vào các hoạt động xã hội.

Do đó, giải quyết vấn đề trẻ em khuyết tật không thể chỉ dừng lại ở việc hoàn thiện chính sách hay tăng cường nguồn lực, mà còn phải bắt đầu từ việc thay đổi nhận thức, xây dựng một xã hội bao trùm, tôn trọng sự khác biệt.

1.7

Sở Y tế Lào Cai và Trung tâm II (Hội Cứu trợ TETTVN) khai mạc Chương trình phẫu thuật cho TEKT có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn tỉnh Lào Cai năm 2025, do Quỹ Thiện Tâm (Tập đoàn VinGroup) tài trợ và các nhà tài trợ đồng hành: Công ty JMB Việt Nam, Công ty TNHH BigYes, Xanh SM.

Nhìn thẳng vào thực trạng để hành động

Tổng thể, bức tranh về nhu cầu và khả năng tiếp cận dịch vụ của trẻ em khuyết tật hiện nay cho thấy nhiều gam màu sáng – tối đan xen. Những thành tựu về chính sách là đáng ghi nhận, song khoảng cách giữa chủ trương và thực tiễn vẫn còn lớn.

Ba vấn đề nổi lên có thể nhận diện rõ: (1) nhu cầu hỗ trợ ngày càng gia tăng, đặc biệt ở giai đoạn can thiệp sớm; (2) hệ thống dịch vụ chưa đáp ứng cả về số lượng và chất lượng; (3) rào cản về nhận thức và định kiến xã hội vẫn còn sâu sắc.

Những vấn đề này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải có những giải pháp mang tính hệ thống, đồng bộ và đột phá hơn trong thời gian tới. Không chỉ là tăng đầu tư, mà cần đổi mới cách tiếp cận; không chỉ là mở rộng dịch vụ, mà phải nâng cao chất lượng; không chỉ là hoàn thiện chính sách, mà phải bảo đảm thực thi hiệu quả.

Quan trọng hơn, cần chuyển từ tư duy “hỗ trợ” sang “trao quyền”, từ “chăm sóc” sang “phát triển”, để mỗi trẻ em khuyết tật không chỉ được bảo vệ, mà còn có cơ hội phát huy tối đa tiềm năng, đóng góp cho xã hội. Đó không chỉ là yêu cầu của phát triển bền vững, mà còn là thước đo của một xã hội công bằng, nhân văn và tiến bộ.

1.8

Trung tâm II (Hội Cứu trợ TETT Việt Nam) tổ chức tập huấn nhận diện nhu cầu của TEKT

1.9

Khám sàng lọc khuyết tật tại Bệnh viện Đa khoa 2, tỉnh Lào Cai

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *