Việc làm cho người khuyết tật trong xu hướng hội nhập: Từ chính sách đến mô hình thực tiễn
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Bảo trợ người khuyết tật Việt Nam lần thứ nhất, nhiệm kỳ 2026 – 2031, diễn ra từ ngày 18-19/5/2026, tại Hà Nội, bà Lương Thị Thu Hà, Giám đốc Trung tâm Hương Giang, tỉnh Lào Cai đã tham luận với chủ đề “Việc làm cho người khuyết tật trong xu hướng hội nhập: Từ chính sách đến mô hình thực tiễn”. Sau đây là toàn văn tham luận:

Đồng chí Hà Thị Nga, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch – Tổng Thư ký Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam; Tiến sĩ Ngô Sách Thực, Chủ tịch Hội Bảo trợ người khuyết tật Việt Nam và các đại biểu thăm gian hàng của Trung tâm Hương Giang trưng bày sản phẩm của người khuyết tật.
“Kính thưa Đại hội!
“Người khuyết tật không chỉ cần được hỗ trợ để tồn tại, mà cần một hệ sinh thái đủ mạnh để phát triển năng lực, tạo ra giá trị, làm chủ cuộc sống và đóng góp trở lại cho xã hội”.
Trên tinh thần đó, tại Trung tâm Hương Giang, chúng tôi không tiếp cận theo hướng hỗ trợ đơn lẻ, mà kiên trì xây dựng một chuỗi phát triển khép kín và liên thông: từ can thiệp sớm, giáo dục, đào tạo nghề, đến tổ chức sản xuất, thương mại hóa sản phẩm và từng bước hội nhập thị trường.

Bà Lương Thị Thu Hà, Giám đốc Trung tâm Hương Giang, tỉnh Lào Cai phát biểu tham luận tại Đại hội.
Cách tiếp cận này đã mang lại những kết quả cụ thể và có thể kiểm chứng:
– 04 mã nghề được cấp phép đào tạo trình độ sơ cấp;
– 02 dòng sản phẩm đạt OCOP 3 sao: Tranh Mộc – Hương Giang và Hoa Mộc – Hương Giang;
– 100 tác phẩm được đăng ký bản quyền tác giả;
– Hơn 1.000 sản phẩm được lựa chọn làm quà tặng tại Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ X.
– Hình thành hệ thống sản phẩm thủ công mỹ nghệ từ hoa liệu tự nhiên, mang bản sắc địa phương và có khả năng thương mại hóa;
– Triển khai hoạt động xúc tiến thương mại tại nhiều tỉnh, thành phố như Hà Nội, Huế, Hòa Bình, Phú Thọ, Yên Bái, Lào Cai…
– Không chỉ dừng lại ở thị trường trong nước, các sản phẩm đã tham gia nhiều triển lãm trong và ngoài nước, đồng thời Trung tâm đã ký kết hợp tác với các đối tác tại Đức, từng bước đưa sản phẩm của người khuyết tật (NKT) tiếp cận thị trường quốc tế.
Tuy nhiên, giá trị cốt lõi không nằm ở các con số hay thành tích đạt được, mà ở sự chuyển biến thực chất: NKT tại Trung tâm đã trực tiếp tham gia vào quá trình tạo ra sản phẩm có giá trị thật, được thị trường chấp nhận, có đối tác tiêu thụ.
Từ chỗ là đối tượng cần hỗ trợ, họ đã trở thành lực lượng lao động có kỹ năng, có thu nhập, có khả năng tạo ra giá trị cho xã hội. Đây chính là minh chứng rõ nét cho hiệu quả của cách tiếp cận dựa trên hệ sinh thái phát triển bền vững.
Từ thực tiễn đó, chúng tôi rút ra một vấn đề:
Hiện nay, nhiều mô hình hỗ trợ NKT đã và đang phát huy hiệu quả ở từng khâu riêng lẻ. Có đơn vị làm tốt can thiệp sớm, có nơi triển khai hiệu quả đào tạo nghề, cũng có những mô hình sản xuất vận hành tương đối ổn định. Tuy nhiên, các mắt xích này chưa được kết nối trong một chuỗi giá trị hoàn chỉnh.
Chính sự phân mảnh đó đang trở thành “nút thắt” lớn, cản trở quá trình phát triển bền vững của NKT. Vấn đề cốt lõi hiện nay không phải là thiếu mô hình tốt, mà là thiếu một cơ chế liên kết đủ mạnh để tích hợp các mô hình thành một hệ sinh thái đồng bộ, có khả năng bổ trợ và dẫn dắt lẫn nhau.
Thực tế cho thấy, nhiều mô hình vẫn đang tồn tại tình trạng “đứt gãy” trong chuỗi phát triển:
Can thiệp sớm chưa được thiết kế gắn với định hướng nghề nghiệp dài hạn;
Đào tạo nghề chưa bám sát nhu cầu thực tế của thị trường lao động;
Quá trình sản xuất chưa đi kèm với chiến lược thương mại hóa sản phẩm;
Hệ quả là người học, dù được trang bị kỹ năng, vẫn khó tìm được cơ hội việc làm hoặc tự tạo sinh kế. Nếu việc đào tạo chỉ dừng lại ở kỹ năng mà không gắn với đầu ra, NKT rất dễ quay lại trạng thái phụ thuộc.
Một hạn chế đáng chú ý khác là sản phẩm do NKT làm ra chưa thực sự trở thành hàng hóa trên thị trường. Nhiều sản phẩm vẫn dừng ở giá trị “nhân văn” mà thiếu các yếu tố cốt lõi của một sản phẩm thương mại như: thiết kế chưa phù hợp thị hiếu, xây dựng thương hiệu, hệ thống phân phối chưa hiệu quả. Điều này tạo ra một vòng lặp không mong muốn: học xong – không có việc làm – quay lại phụ thuộc.
Ngược lại, nếu hình thành được một hệ sinh thái hoàn chỉnh, các yếu tố sẽ vận hành theo một chuỗi liên kết chặt chẽ:
Giáo dục và can thiệp sớm giúp hình thành nền tảng năng lực;
Đào tạo nghề phát triển kỹ năng thực hành;
Doanh nghiệp đảm nhận vai trò tổ chức sản xuất và tạo việc làm;
Thị trường quyết định giá trị và tính bền vững của sản phẩm;
Xã hội tạo dựng môi trường cơ hội bình đẳng.
Khi đó, NKT không còn phụ thuộc vào hỗ trợ lâu dài, mà có thể chủ động tham gia lao động, tạo thu nhập và khẳng định giá trị của bản thân.
Vì vậy, đây là thời điểm cần một sự chuyển dịch mang tính chiến lược:
Từ tiếp cận hỗ trợ sang tiếp cận phát triển năng lực;
Từ tư duy từ thiện sang tư duy tạo giá trị bền vững ;
Từ các giải pháp ngắn hạn sang xây dựng hệ sinh thái dài hạn, có khả năng tự vận hành và mở rộng.
Đây không chỉ là thay đổi cách làm, mà là thay đổi cách nhìn nhận về vai trò và tiềm năng của NKT trong phát triển kinh tế – xã hội.
Thứ nhất, nhân rộng mô hình Trung tâm theo hướng hệ sinh thái dành cho người khuyết tật.
Cần lựa chọn những mô hình đã được kiểm chứng về hiệu quả trong thực tiễn để chuẩn hóa, hoàn thiện quy trình và phát triển theo vùng, thay vì đầu tư dàn trải hoặc xây dựng lại từ đầu. Mô hình này phải tích hợp đầy đủ các hợp phần: can thiệp sớm – giáo dục – đào tạo nghề – sản xuất – tiêu thụ sản phẩm, nhằm tạo ra chuỗi giá trị liên tục và bền vững.
Thứ hai, ban hành cơ chế “đặt hàng đào tạo gắn với doanh nghiệp”.
Nhà nước cần đóng vai trò kiến tạo thông qua việc hỗ trợ kinh phí đào tạo theo nhu cầu thực tế. Đồng thời, doanh nghiệp phải tham gia ngay từ khâu xây dựng chương trình, tổ chức đào tạo và cam kết tiếp nhận lao động sau đào tạo.
Các công cụ chính sách cần đi kèm gồm: ưu đãi thuế cho doanh nghiệp sử dụng lao động là NKT; hỗ trợ chi phí đào tạo và gắn kết chặt chẽ giữa chứng chỉ nghề với tiêu chí tuyển dụng.
Giải pháp này nhằm giải quyết trực diện bài toán cốt lõi: Đào tạo phải gắn với việc làm, người học sau đào tạo phải có cơ hội tham gia thị trường lao động.
Thứ ba, xây dựng Chương trình quốc gia về xúc tiến thương mại sản phẩm của người khuyết tật.
Cần có chính sách hỗ trợ phát triển thương hiệu, bảo hộ sở hữu trí tuệ; tổ chức các không gian trưng bày, giới thiệu sản phẩm mang tính quốc gia; đồng thời thúc đẩy kết nối với các kênh phân phối hiện đại, đặc biệt là thương mại điện tử và xuất khẩu.
Mục tiêu là chuyển đổi căn bản từ cách tiếp cận “sản phẩm mang tính nhân văn” sang “hàng hóa có giá trị kinh tế”, có khả năng cạnh tranh và đứng vững trên thị trường.

Đồng chí Hà Thị Nga, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch – Tổng Thư ký Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam; Tiến sĩ Ngô Sách Thực, Chủ tịch Hội Bảo trợ người khuyết tật Việt Nam; bà Trần Thị Dung, Phó Chủ tịch Hội Bảo trợ người khuyết tật Việt Nam cùng các đại biểu dự Đại hội ấn tượng với sản phẩm của Trung tâm Hương Giang, tỉnh Lào Cai.

Các đại biểu dự Đại hội thăm gian hàng trưng bày sản phẩm của Trung tâm Hương Giang, tỉnh Lào Cai.
Kính thưa Đại hội!
Từ thực tiễn hoạt động tại Trung tâm Hương Giang, chúng tôi nhận thấy: NKT không thiếu năng lực. Điều họ còn thiếu là một hệ thống đủ mạnh, đủ đồng bộ để phát hiện, nuôi dưỡng và phát huy năng lực đó.
Nếu chúng ta tiếp tục duy trì cách tiếp cận hỗ trợ đơn lẻ, ngắn hạn, hệ quả tất yếu sẽ là sự phụ thuộc kéo dài. Vấn đề không nằm ở chỗ NKT có làm được hay không, mà ở chỗ chúng ta đã tạo dựng đủ điều kiện để họ làm được hay chưa.
Ngược lại, khi chuyển sang cách tiếp cận xây dựng hệ sinh thái, chúng ta có thể hình thành:
Một lực lượng lao động mới có kỹ năng;
Một nguồn giá trị kinh tế mới cho xã hội;
Và một môi trường nhân văn nhưng không phụ thuộc.
Thực tiễn cho thấy, khi được trao đúng cơ hội và đặt trong một hệ thống phù hợp, NKT không chỉ thay đổi cuộc đời của chính mình mà còn có thể đóng góp trở lại cho xã hội một cách bền vững.
Tôi tin rằng, với sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và sự đồng hành của các Bộ, ban, ngành, những giải pháp này hoàn toàn có thể triển khai hiệu quả trong thực tế. Khi đó, NKT Việt Nam sẽ không chỉ là đối tượng cần hỗ trợ, mà sẽ trở thành một lực lượng lao động có giá trị, có đóng góp và có vị thế rõ ràng trong phát triển kinh tế – xã hội.
Xin trân trọng cảm ơn!”.
